Xu hướng hiện đại hóa hải quân của một số nước châu Á hiện nay

by Tư xe đò

Hiện nay, vì nhiều lý do, các nước châu Á đang có xu hướng chú trọng hiện đại hóa lực lượngHải quân, coi đây là một nội dung quan trọng trong xây dựng quân đội thế kỷXXI.

Theo kết quả khảo sát quốc phòngcủa nhiều tổ chức quốc tế thì, châu Á hiện là một trong những thị trường vũkhí, trang bị (VK,TB) hải quân sôi động vào hàng bậc nhất thế giới. Trongchương trình phát triển VK,TB hải quân được các nước khu vực công bố thì tớinăm 2017, có hơn 108 tỷ USD sẽ được chi cho mua sắm và hiện đại hóa VK,TB hảiquân; trong đó, 16 quốc gia ven biển ở châu Á sẽ mua khoảng 850 tàu chiến cácloại. Đó là con số đáng kinh ngạc.

Tàu Đinh Tiên Hoàng của Hải quân nhân dân ViệtNam

Đặc điểm nổi bật trong chiến lược hải quân của các nước châu Á là hiệnđại hóa có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển các loại VK,TB hiện đại,phù hợp với mục đích chính trị, chiến lược quốc phòng – quân sự, tiềm lực kinhtế và trình độ phát triển khoa học – công nghệ của quốc gia. Ví như, Trung Quốcvà Ấn Độ là hai nền kinh tế mới nổi, chú trọng xây dựng cụm tàu sân bay, coiđây là một trọng tâm để hiện đại hóa Hải quân và nâng cao khả năng tác chiếncủa lực lượng này trên các vùng biển xa. Nhật Bản, Hàn Quốc,… tập trung hiệnđại hóa lực lượng tàu mặt nước, mà trọng tâm là tàu khu trục với khả năng phòngthủ tên lửa đường đạn, bảo vệ các đảo đông dân cư và phát triển tàu ngầm hiệnđại trang bị hệ thống động lực sử dụng nguồn không khí độc lập (AIP), thời gianlặn kéo dài, tương đương khả năng của tàu ngầm hạt nhân. Một số quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) lựa chọn chiến lược trang bị các tàu frigat, tàu ngầm điệnđi-ê-den,… nhằm nâng cao khả năng tác chiến phòng thủ tích cực, đáp ứng yêucầu bảo vệ lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Chuyên gia quân sựnhiều nước cho rằng, việc hiện đại hóa VK,TB hải quân của các nước châu Á xuấtphát từ thực tiễn tình hình an ninh khu vực và xu hướng xây dựng quân đội hiệnđại, đáp ứng yêu cầu chiến tranh cục bộ có sử dụng vũ khí công nghệ cao, gópphần tăng cường sức mạnh quốc phòng nói chung, năng lực tác chiến của lực lượngHải quân nói riêng. Điều đó cũng đặt ra những vấn đề mới không chỉ đối vớinhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng của từng nước, mà còn có nhữngtác động không nhỏ đến tình hình an ninh, ổn định của khu vực và quốc tế.

Trước hết, đối vớiviệc trang bị tàu sân bay. Tiên phong trong lĩnh vực này là Trung Quốc vàẤn Độ. Ngày 10-8-2011, Trung Quốc đã tiến hành chạy thử nghiệmtàu sân bay Thi Lang, thu hút sự quan tâm lớn của dư luận khu vực và thế giới.Với việc trang bị tàu sân bay Thi Lang, Trung Quốc trở thành thành viên chínhthức trong “Câu lạc bộ tàu sân bay” của thế giới, gồm 9 nước (trongđó, Mỹ có 11 chiếc, chiếm 50% trong tổng số tàu sân bay của Câu lạc bộ này vàđều là loại tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân). Đánh giá về tàu sân bay ThiLang, nhiều chuyên gia quân sự cho rằng, đây là tàu Varyag do Trung Quốc muacủa U-crai-na và sửa chữa, tân trang lại; có tính năng kỹ, chiến thuật vào loạihiện đại bậc trung bình của thế giới, chưa thể sánh với tàu sân bay của Mỹ vàcủa nhiều nước khác. Họ cũng cho rằng, tàu sân bay thực chất là một sân bay diđộng, việc trang bị nó có thể nâng cao đáng kể sức mạnh quốc phòng, nhất là khảnăng tác chiến viễn dương của lực lượng Hải quân. Tuy nhiên, tàu sân bay cónhững yêu cầu rất khắt khe, phức tạp về công tác bảo đảm, bảo vệ và thực hành tácchiến. Tàu sân bay có kích thước thường rất lớn, di chuyển không linh hoạt nênnó là mục tiêu lộ, rất dễ bị các loại tên lửa hành trình, tàu chiến và máy baychiến đấu của đối phương tiêu diệt. Để khắc phục tình trạng đó, các nước thườngphải sử dụng số lượng lớn tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm và các loại tàuchiến đấu khác để làm công tác bảo đảm, phòng vệ và để tàu sân bay phát huyđược uy lực. Điều này rất tốn kém, không phải nước nào sở hữu tàu sân bay cũngcó đủ điều kiện để làm được. Mặt khác, do mới trang bị, nên cũng như Hải quâncác nước khác, Hải quân Trung Quốc cũng phải mất một thời gian dài (thườngkhoảng 5 đến 10 năm) để làm chủ được tàu sân bay và để tàu sân bay hòa nhậptrong đội hình tác chiến của Hải quân nói riêng, của quân đội nói chung. Theotờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản, trong thời gian tới, cùng với việc hoànthiện tàu sân bay Thi Lang, Trung Quốc chủ trương đóng mới một tàu sân baykhác, mang tên “Bắc Kinh”.

Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ cũng có dự án sản xuất 2 tàu sân bay lớp Vikrant,với độ rẽ nước khoảng 40.000 – 60.000 tấn, tầm hoạt động 7.500 hải lý, mangtheo được khoảng 30 máy bay chiến đấu; coi đây là một trọng tâm trong chươngtrình phát triển VK,TB hải quân những thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Ấn Độ dự kiến sẽhạ thủy hai tàu sân bay này vào năm 2017 – 2018.

 Thứ hai, mua sắm, hiện đại hóa các tàu khu trục.Theo chuyên gia quân sự củanhiều nước, do tính năng kỹ, chiến thuật khá ưu việt, có thể đảm nhiệm nhiềunhiệm vụ, trong đó có khả năng chống tàu sân bay, nên các loại tàu khu trục,tầu hộ tống là một trọng tâm phát triển của Hải quân nhiều nước châu Á2.Để thực hiện mục tiêu phòng vệ từ biển xa, Hải quân Nhật Bản đang phát triểncác loại tàu khu trục JDS Atagos và JS Ashigara thuộc lớp Atagos, có giá trịlên đến 1,5 tỉ USD, được trang bị các hệ thống tên lửa đa năng tiên tiến, kể cảkhả năng đánh chặn tên lửa đường đạn và có thể mang theo trực thăng săn tàungầm… Đồng thời, Hải quân nước này cũng tập trung nâng cao khả năng phòng thủtên lửa đường đạn (BMD) cho lực lượng tàu chiến mặt nước; trang bị hệ thống tênlửa Aegis và tên lửa đa năng cho 6 tàu khu trục (gồm 4 tàu Kongous và 2 tàuAtagos), để tăng cường khả năng phòng thủ và tiến công trên biển. Trong chiếnlược hiện đại hóa hải quân, Hàn Quốc đã lắp đặt hệ thống tên lửa Aegis trên 3tàu khu trục KDX-3 và có thể sẽ đặt hàng thêm 3 hệ thống nữa. Đồng thời, HànQuốc cũng hiện đại hóa hai tàu khu trục Sejong the Great và Yulgok Yi I thuộclớp King Sejong the Great, trên cơ sở trang bị các loại tên lửa đa năng, súng pháođể đối không, đối hải và hệ thống tên lửa Aegis đời mới. Hải quân Hàn Quốc còntrang bị pháo cỡ nòng trung bình và tên lửa cho một số tàu khu trục để nâng caokhả năng thực hành tiến công các mục tiêu trên đất liền.

Thứ ba, lựa chọn tàu ngầm và các tàu mặt nước hạng nhẹ. Trongđiều kiện ngân sách quốc phòng hạn chế, các nước ASEAN rất chú trọng mua sắmtàu ngầm điện đi-ê-den, tàu frigat và trang bị các tổ hợp tên lửa bờ, nhằm bảovệ lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế của mình. Xin-ga-po và Ma-lai-xi-ahiện sở hữu các tàu ngầm rất hiện đại. Năm 2009 – 2010, Xin-ga-po đã nhận 2 tàungầm lớp Archer của Thụy Điển, nâng tổng số tàu ngầm của nước này lên 6 chiếc.Ưu điểm của tàu ngầm lớp Archer là khả năng di chuyển rất êm, hệ thống định vịchuẩn xác, trang bị tới 9 ống phóng ngư lôi. Ma-lai-xi-a sở hữu tàu ngầm lớpScorpene do Pháp chế tạo, có khả năng tác chiến linh hoạt với 6 ống phóng ngưlôi và có khả năng hoạt động liên tục trên biển trong 50 ngày.

Cùng với đó, những năm gần đây, nhiều nước ASEAN chú trọng lựa chọn muasắm và trang bị tàu mặt nước hạng nhẹ, lấy đây làm lực lượng nòng cốt để nângcao khả năng tác chiến linh hoạt1. Theo chuyên gia quân sự nhiềunước, do nhiệm vụ chủ yếu của Hải quân các nước ASEAN là quản lý, bảo vệ chủquyền lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, nên việc lựa chọn tàu mặt nước hạngnhẹ là hợp lý. So với các loại tàu chiến khác, các tàu chiến loại này có ưu thếvề khả năng cơ động cao, cập và xuất cảng đơn giản, không đòi hỏi điều kiệnhoạt động khắt khe, nhất là khả năng tác chiến khu vực sát bờ và cận chiến trênbiển hiệu quả. Lớp tàu mặt nước hạng nhẹ, tốc độ cao bao gồm các loại, như: tàucao tốc phóng tên lửa, tàu cao tốc phóng ngư lôi, tàu tiến công bắn pháo, tàutuần tra, tàu cao tốc đổ bộ,… Một số khinh hạm cũng có thể xếp vào nhóm này,như khinh hạm cao tốc phóng tên lửa thuộc lớp Tarantul, có tốc độ 32,5 hảilý/giờ, tầm hoạt động hơn 1.000 hải lý. Khinh hạm này có thể phóng tên lửachống hạm bay sát mặt nước và tên lửa đối không tầm gần. Loại tàu này cũng cònđược trang bị pháo hạm và pháo phòng không để bắn máy bay và tàu chiến của đốiphương. Ngoài ra, một số loại tàu hộ tống, tàu đổ bộ, tàu frigat lớp Sigma, tàufrigat lớp Formidable có khả năng mang theo trực thăng săn tàu ngầm cũng đượccác nước ASEAN lựa chọn mua, trang bị cho Hải quân.

Một đặc điểmkhá nổi bật trong hiện đại hóa Hải quân các nước ASEAN hiện nay là cùng với muasắm, nhập khẩu các VK,TB hiện đại, các nước này cũng chú trọng phát triển ngànhcông nghiệp quốc phòng (CNQP), nhằm nâng cao khả năng tự chủ về VK,TB, đồngthời, phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu. Phương pháp hiện đại hóa ngành CNQP củacác nước ASEAN thường là thông qua mua bản quyền chế tạo, chuyển giao côngnghệ, hợp tác nghiên cứu, chế tạo,… Đến nay, một số nước ASEAN, như:Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a đã xây dựng được ngành CNQP hảiquân khá mạnh, đủ khả năng nghiên cứu, chế tạo một số loại tàu chiến đấu hạngnhẹ, nhiều trang thiết bị điện tử, hệ thống chỉ huy, kiểm soát, truyền thông,máy tính (C3I), hệ thống phòng không, tên lửa các loại,… không chỉ để trangbị cho Hải quân nước mình, mà còn phục vụ cho xuất khẩu, kể cả xuất khẩu chocác nước Tây Âu có trình độ khoa học và công nghệ hiện đại. Cùng với đó, Hảiquân các nước ASEAN cũng chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục vàđào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khoa học nghệthuật quân sự hải quân trong điều kiện tác chiến mới, nhất là khả năng tácchiến hiệp đồng quân, binh chủng và các lực lượng dân sự hoạt động trên biển trongchiến tranh cục bộ có sử dụng vũ khí công nghệ cao; đủ sức quản lý, bảo vệ vữngchắc chủ quyền biển, đảo của đất nước.

Đại tá ĐẶNGĐỒNG TIẾN

____________

1 – Hải quân Trung Quốc hiện có trong biên chế khoảng16 tàu khu trục, Hải quân Nhật Bản có 40 chiếc, Hải quân Hàn Quốc có 11 chiếc.

2 – Tỷ lệ tàu mặt nước hạng nhẹ trong tổng số tàu hảiquân của một số nước ASEAN: Xin-ga-po là 17/50, In-đô-nê-xi-a là 36/48,Ma-lai-xi-a là 47/52, Bru-nây là 100%.